MỤC LỤC

Tứ diệu đế ( chữ Hán 四妙諦, tiếng Bắc Phạn catvāry āryasatyāni, tiếng Nam Phạn cattāri ariya-saccāni, tiếng Tây Tạng bden pa bzhi བདེན་པ་བཞི་), cũng gọi là Tứ Thánh Đế (四聖諦).

Đế” có nghĩa là Sự Thật. “Tứ Diệu Đế” có nghĩa là 4 Sự Thật Cao Quý. Hay chúng ta còn gọi đó chính là “Tứ Thánh Đế”.

Bia Đá Cổ Minh Hoạ Tứ Diệu Đế

NGUỒN GỐC CỦA TỨ DIỆU ĐẾ

Tứ Diệu Đế là chân lý vô thượng. Chân lý này đủ cả hai phần là: “Lý Thuyết và Thực Hành”. Chân lý này đưa người tu sĩ tới sự Giác Ngộ giải thoát. “Tứ Diệu Đế” đòi hỏi sự tu tập, thực hành hàng ngày trong cuộc sống.

Tứ Diệu Đế là nền tảng của giáo lý, là cốt tuỷ của giáo pháp, được Đức Phật chứng ngộ trong đêm Thành Đạo và tuyên thuyết ở trong kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanasutta) ở Vườn Nai để độ cho 5 ngài Koṇḍañña, Vappa, Bhaddiya, Mahānāma và Assaji (hay còn gọi là 5 anh em Kiều Trần Như – Añña Koṇḍañña) và 18 vạn Phạm ThiênXem cuộc đời Đức Phật Thích Ca để hiểu rõ hơn về điều này – 

Bài pháp này mở đầu “Thời kỳ chuyển Pháp Luân thứ nhất” gọi là Tiểu Thừa. Chữ “Pháp Luân” tức là Bánh Xe Chánh Pháp. Chánh pháp ở đây dùng để chỉ lời giáo huấn của Đức Phật.

Chuyển Pháp Luân (Bánh Xe Chánh Pháp)

Đức Phật đã nói như sau:

“- Này các thầy Tỳ-kheo! Ngày nào mà tuệ thấy rõ, biết rõ về Tứ Đế tuần tự qua 3 giai đoạn thành 12 loại trí tuệ. Mà Như Lai chưa được hoàn toàn sáng tỏ, thì chừng ấy Như Lai chưa xác nhận rằng là Như Lai đã chứng ngộ Chánh Đẳng Giác. 

Nay thì tuệ như thực về Tứ ĐếNhư Lai đã hoàn toàn sáng tỏNhư Lai tuyên bố rằng, Như Lai đã chứng đắc Chánh Đẳng Giác trước thế giới nhân loại, vua chúa, sa môn, bà-la-môn, luôn cả chư Thiên, ma vương và Phạm Thiên cả thảy”.

Như vậy, thấy rõ Tứ Diệu Đế, chứng ngộ Tứ Diệu Đế là điều kiện tất hữu để thành A-la-hán, Đức Phật vậy.

Ngoài ra, trong các kinh điển, Đức Phật thường có những lời dạy như sau:

– Ai thấy rõ Tứ Đế là người ấy có chánh kiến, đã vĩnh viễn ly thoát tà kiến.

– Ai thấy rõ Tứ Đế, người ấy có đức tin bất động với giáo pháp.

– Ai thấy rõ Tứ Đế, người ấy không còn bị vô minh, si mê chi phối.

– Người thấy rõ Tứ Đế mới có khả năng giải thoát dòng bộc lưu sinh tử.

Tứ Diệu Đế quan trọng cho tất thảy mọi người. Từ những người tu Phật. Đến những người không tu Phật. Không kể là chư Tăng Ni, nam nữ Cư Sĩ của bất kỳ tông hệ Phật giáo nào. Không có Tứ Diệu Đế thì không có Phật giáo. Giảng thuyết giáo pháp mà không có Tứ Diệu Đế thì không phải Phật giáo. 

Ý NGHĨA CỦA TỨ DIỆU ĐẾ

Tứ Diệu Đế bao gồm những chân lý về:

  1. chân lý về khổ [Khổ Đế]: Cho ta cái nhìn thật về mọi thứ của thế gian. Giúp ta nhận ra cái KHỔ
  2. chân lý về nguyên nhân của khổ [Tập Đế]: cho ta biết nguyên nhân gốc rễ của mọi sự thế gian. Giúp ta nhận ra cái gì tạo nên KHỔ
  3. chân lý về khả năng chấm dứt khổ [Diệt Đế]: cho ta thấy về các quả vị giải thoát mà ta có thể đạt được khi không còn KHỔ
  4. chân lý về con đường dẫn đến sự thoát khổ [Ðạo Đế] cho ta thấy rõ con đường mình cần phải đi để đạt được các quả vị giải thoát.

Tứ Diệu Đế

Nói cho thật ngắn gọn, Tứ Diệu Đế dạy rằng ai cũng muốn hạnh phúc. Không ai muốn mình chịu khổ đau. Khổ đau là thứ mà chúng ta ai cũng muốn tránh. Nhưng nó là kết quả của chuỗi nhân duyên và nghiệp quả có từ nhiều đời nhiều kiếp trước khi chúng ta sinh ra đời. Nếu muốn hoàn thành nguyện vọng thoát khổ, cần phải hiểu rõ Nhân Duyên của Khổ. Tức là thấu hiểu rõ: 12 NHÂN DUYÊN. Nghĩa là vì sao mà có khổ. Khổ phát sinh trong trường hợp nào.  (Xem bài viết về 12 Nhân Duyên tại đây)

Rồi dựa vào đó mà nỗ lực diệt trừ cái khổ. Ngoài ra, nhân duyên của hạnh phúc cũng rất quan trọng. Chúng ta cần hiểu rõ để có thể chủ động mang hạnh phúc về. Ðó chính là tinh túy của Tứ Diệu Đế.

Và khi chúng sanh đã thấy biết như thật về “4 Sự Thật Cao Quý”, Đức Phật đã khai thị nhiều hơn. Ngài dạy về ba mươi bảy nấc thang trên đường tu giải thoát, được gọi là “37 Phẩm Trợ Đạo”. 

37 Phẩm Trợ Đạo được chia ra làm 7 phần là:

  1. Tứ niệm xứ (Tứ niệm trụ)
  2. Tứ Chánh Cần
  3. Tứ Như Ý Túc
  4. Ngũ Căn
  5. Ngũ Lực
  6. Thất Giác Chi
  7. Bát Chánh Đạo

Và khi hành giả tu tập rốt ráo 37 Phẩm Trợ Đạo tức là đã viên mãn trên con đường Đạo Đế của Tứ Diệu Đế. Và đạt được quả vị Giải Thoát ứngtheo sự tu tập của mỗi hành giả.

NỘI DUNG CỦA TỨ DIỆU ĐẾ

1. KHỔ ĐẾ (Dukkha Sacca)

SỰ THẬT VỀ KHỔ

Dukkha là một từ rất khó dịch ra bất kỳ một ngôn ngữ nào khác. Người ta thường dịch dukkha là đau khổ hay phiền nãoTuy thế, đau khổ hay phiền não cũng chỉ nói lên được một vài thuộc tính, vài tính chất của dukkha mà thôi. Tương đối trọn vẹn, chính xác và đầy đủ về dukkha, ta có thể tạm hiểu như sau:

  • Tất cả những biến đổi về sinh vật lý của cơ thể này đưa đến đau nhức, suy nhược, bệnh hoạn, già yếu, tử vong… là dukkha.
  • Tất cả những biến đổi, thay đổi các trạng thái tâm lý… như thương, ghét, uất ức, sầu muộn, chán nản, tuyệt vọng, hận thù… (hỷ, nộ, ái, ố…) đều là dukkha.
  • Với nghĩa của sự trừu tượng, triết học thì cái gì khó chịu đựng, khó kham nhẫn… là dukkha (duk là khó, kha là chịu đựng). Cái gì đáng khinh miệt (du) và trống rỗng (kha) là dukkha. Cái gì như hư vô, ảo ảnh, khó nắm bắt, không thực tế… đều là dukkha.

Nói tóm lại, cô đọng và chính xác nhất: Vì thế gian Vô Thường (anicca), Ngã (anatta) nên Thế Gian này là KHỔ (Dukkha).

Đức Phật đã thuyết rằng:

Tatthakatama jatipidukkha jarapidukkha byadhi pidukkha maranampidukkha sokaparidevadukkha domanassupayasapidukkha appiyehisampayogodukkha piyehivippayogodukkho yampicchamnalabhati tampidukkha samkhittenapancupadanakkhandhapidukkha 

Này các vị tỳ kheo! Những sự thống khổ mà Như Lai diễn giải đây, nó hằng phá hại chúng sanh phải chịu nhiều sự khổ não không ngừng nghỉ, đeo đuổi mà làm cho chúng sanh phải chịu điêu đứng không cùng, những sự khổ ấy như thế nào?

Trong kinh Chuyển Pháp LuânĐức Phật đã giảng tóm tắt về Khổ Đế như sau:

“- Này các thầy tỳ-kheo! Sanh là sự hội họp của Ngũ Uẩn, là Dukkha. Lão là suy nhược, già yếu, DukkhaBệnh hoạn, đau ốm là Dukkha. Tử là sự tan rã của Ngũ Uẩn, là Dukkha. Uất ức, bực tức là Dukkha. Thương mà phải lìa xa là Dukkha. Ghét mà phải cùng ở là Dukkha. Muốn mà không toại lòng, là Dukkha. Nói tóm lại, Thủ Ngũ Uẩn là Dukkha”.

Này các vị tỳ kheo! Sự Khổ có tất cả 8 điều

  1. Sanh: khổ vì sự sanh
  2. Lão: khổ vì sự già
  3. Bệnh: khổ vì sự bệnh
  4. Tử: khổ vì sự chết
  5. Ái biệt ly: Khổ vì không ưa mà phải ở gần, ưa mà phải chia xa.
  6. Oán tăng hội: khổ vì uất ức. Khổ vì các sự thống khổ
  7. Cầu bất đắc: khổ vì những sự mong cầu, chờ đợi, hi vọng, mong muốn không được toại nguyện.
  8. Thủ ngũ uẩn: khổ vì sự Chấp Trước Ngũ Uẩn.

Tám Sự Khổ này sinh ra là do Ngũ Uẩn. Tám Sự Khổ này tồn tại là do Thủ Ngũ Uẩn (Sự Chấp Trước Ngũ Uẩn)

VẬY NGŨ UẨN VÀ THỦ NGŨ UẨN LÀ NGUỒN GỐC CỦA MỌI SỰ KHỔ.

Về Ngũ Uẩn, chúng ta có thể hiểu ngắn gọn như sau: Ngũ Uẩn gồm có: SẮC; THỌ; TƯỞNG; HÀNH; THỨC.

  1. SẮC (rūpa): Sắc là thân này, tấm Thân Tứ Đại một trượng này. Tuy nhiên ta phải hiểu SẮC là gồm có Xác Thân và cả 7 Sắc Đối Tượng (sẽ xem kỹ hơn ở bài Ngũ Uẩn).
  2. THỌ (vedanā): Tức là cảm thọ, cảm giác. Khi Ngũ Căn, Ngũ Trần giao tiếp với nhau thì phát sanh những cảm thọ. Ngũ căn  Thân có 3 cảm thọ (khổ, lạc, xả). Ý có 3 cảm thọ (hỷ, ưu, xả).
  3. TƯỞNG (saññā): Được hiểu là tri giác, tức là nhận biết, phán đoán, xác định đối tượng là sắc, thanh, hương, vị, xúc hay pháp.
  4. HÀNH (saṅkhāra): Gồm chung 50 tâm sở thiện, bất thiện và bất động. Ở đây xẩy ra các trạng thái tâm lý, các diễn tiến tâm lý.
  5. THỨC (viññāṇa): Là tên gọi khác của tâm, là tất cả 89 tâm (theo Abhidhamma). Thức này nhận thức đối tượng, kinh nghiệm đối tượng và lưu giữ đối tượng. Đây chính là thức đầu tiên của kiếp sống, cũng là thức cuối cùng đi tìm cảnh giới tái sanh (kiết sanh thức).

Người Tu phải thấy, biết như thật và thực chứng Ngũ Uẩn. Không thấy rõ Ngũ Uẩn thì không thể Giải Thoát

Xem bài viết chi tiết về NGŨ UẨN tại đây.

Muốn rõ tường tận hơn về tất cả Dukkha. Chúng ta chỉ cần thấy rõ, biết rõ 3 loại Dukkha căn bản sau đây: Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ.

📌 KHỔ KHỔ

Tức là Khổ Chồng Chất Lên Cái Khổ. Đây là cái khổ phát sanh trong đời sống thường nhật, từ Khổ Thọ mà raTuy nhiên, muốn thấy rõ toàn bộ khổ khổ, ta phải quan sátchiêm nghiệm có 2 loại khổ:

– Một loại Khổ bình thường, tự nhiên được gọi là Khổ Thọ Thuần TúyKhổ Thọ Thuần Túy này phát sanh khi thân-tâm-sinh-vật-lý của chúng ta bị sự tác động tự nhiên của 4 định luật vũ trụ. Bậc Thánh nhân hay kẻ phàm phu đều chịu chung Khổ Thọ Thuần Túy này.

– Một loại khổ thứ hai – Khổ Khổ. Tức là loại khổ do ta chế biến, đẻ ra, đã có đầu tư của tư tâm sở. Đây là cái khổ chủ quan, do tư tâm sở mà Khổ Thọ sẽ biến thành Khổ Khổ. Và đây là loại sẽ phát sanh nghiệp báo.

🌿 Khổ Thọ Thuần Tuý:

Được phát sanh khi Lục Căn giao tiếp với Lục Trần.

  1. Khi Mắt thấy sắc chói chang, khó chịu, đau mắt, nhức mắt thì lúc ấy Nhãn Thức Thọ Xả, Thân Thức (thần kinh) Thọ Khổ.
  2. Khi Tai nghe âm thanh chát chúa, khó chịu, lùng bùng, đau nhức thì lúc ấy Nhĩ Thức Thọ XảThân Thức Thọ Khổ
  3. Khi Mũi ngửi mùi khó chịu do thối, hôi, khẳm, nồng nặc, … thì Tỷ Thức Thọ XảThân Thức Thọ Khổ.
  4. Khi Lưỡi nếm vị cay, đắng, chát… khó chịu thì Thiệt Thức Thọ XảThân Thức Thọ Khổ.
  5. Khi Thân xúc chạm buốt, đau, nhức khó chịu thì Thân Thức Thọ Khổ.
  6. Khi Ý nghĩ đến Pháp (Ngũ Trần đọng lại trong tâm) mà phát sanh âu sầu, phiền muộn thì Ý Thức Thọ Ưu.

Nói tóm lại là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt thức luôn luôn Thọ Xả, chỉ có thân là Thọ Khổ; còn ý thức là Thọ Ưu (ưu là tên gọi khác của khổ tâm).

Người tu Tuệ Quán chỉ cần ghi nhận (chánh niệm) các loại khổ này chỉ là khổ bình thường, thuần túy. Lấy Định Tuệ chiếu soi Khổ Thọ ấy như thế nào thì thấy rõ Khổ Thọ ấy như thế’. Đấy được gọi là Khổ Thọ như Thực Tướng (paramattha).

🌿 Khổ Khổ:

Đây là loại Khổ chủ quan đã qua sự chế biến của Tâm Sở.

Nói cách khác, do chính mình đã dùng ý niệm, khái niệm chủ quan mà trùm lên, chồng lên cái Khổ Thọ Thuần Túy, khách quan ở trên.

Ta hãy quan sát tiến trình dấy khởi ấy:

  • Khi một Cảm Thọ Khổ bởi tác động của ngoại giới qua thân, qua tâm. Ta thường thiếu bình tĩnh (định), thiếu sáng suốt (trí tuệ) nên ta bị pháp trần lôi cuốn. Thế rồi, một tâm lý bực bội, bất mãn, do sân, khởi lên. Tâm sân ấy, ngay lập tức, muốn chấm dứt, muốn triệt tiêu, muốn tiêu diệt cái khổ ấy.
  • Và chính tâm lý bực tức, bất mãn và ý muốn chấm dứt khổ một cách chủ quan (do sân – phi hữu ái) làm gia tăng cảm giác khổ thuần túy. Như vậy, vô tình, chúng ta chồng thêm cái Khổ Chủ Quan lên trên cái Khổ Khách Quan bình thường. Vì vậy Khổ chồng thêm Khổ nên gọi là Khổ Khổ.

Do tâm sân (phi hữu ái) muốn chấm dứt khổ thọ (thuần túy) mà sinh ra khổ khổ (chủ quan). Như thế, khổ khổ là do ảo giác của ta sinh ra chứ nó vốn không thực có.

📌 HOẠI KHỔ

Hoại Khổ (viparināma dukkha) này từ Lạc Thọ mà ra. Cũng do sự chế biến chủ quan của tư tâm sở mà Lạc Thọ biến thành Hoại Khổ. Ta sẽ quan sát tiến trình của nó.

🌿 Lạc Thọ Thuần Tuý

  • Khi mắt thấy sắc dễ chịu, khoan khoái, mến thích thì lúc ấy nhãn thức thọ xả mà thân thức thì thọ lạc.
  • Khi tai nghe âm thanh dễ chịu, khoan khoái, mến thích thì nhĩ thức thọ xả mà thân thức thọ lạc.
  • Khi mũi ngửi mùi dễ chịu, khoan khoái, mến thích thì tỷ thức thọ xả mà thân thức thọ lạc.
  • Khi lưỡi nếm vị dễ chịu, khoan khoái, mến thích thì thiệt thức thọ xả mà thân thức thọ lạc.
  • Khi thân xúc chạm dễ chịu, êm ái, khoan khoái, mến thích thì thân thức thọ lạc.
  • Khi ý nghĩ tưởng đến pháp phát sanh khoan khoái, mến thích thì ý thức thọ hỷ.

Nói tóm lại là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt thức Thọ Xả, riêng thân là Thọ Lạc; còn ý thức thì Thọ Hỷ (hỷ là tên gọi khác của lạc tâm).

Người tu Tuệ Quán chỉ cần chánh niệm, ghi nhận đây là Lạc Thọ Thuần Tuý. Lấy định tuệ chiếu soi Lạc Thọ ấy như thế nào thì thấy rõ Lạc Thọ ấy như thế”. Đấy được gọi là Lạc Thọ như thực tướng (paramattha).

🌿 Hoại Khổ

Ở đây, khi các đối tượng Ngũ Trần dễ mến, dễ ưa, khả ái, khả hỷ phát sanh. Thì chúng ta thường không giữ được cảm giác Lạc Thọ Thuần Tuý ban đầu. Chúng ta chính do Tham Đắm, Mê Chấp khởi sanh tâm lý muốn gìn giữ, ôm ấp, muốn lưu giữ mãi cảm giác lạc thọ ấy. Và chính vì sự tham muốn sai lầm (tham – hữu ái), sai với qui luật tự nhiên làm cho cảm giác Lạc Thọ Thuần Túy biến thành Khổ ĐauTa hãy xem sự diễn biến ấy của khổ đau trải qua các giai đoạn:

  • Lạc Thọ đang có mặt: Khi ta có một niềm vui, một vật gì ưa thích, một đối tượng đáng yêu (tức là những Lạc Thọ), thì ta hưởng thụ một cách mãnh liệt, đam mê, say đắm đi kèm theo với tâm phóng dật, mê mờ, mê si. Lại còn có tâm lý lo sợ bị trôi vuột, sẽ không còn là “của ta” nữa, sợ nó sẽ biến mất, sợ nó sẽ không còn tồn tại. Bất an và dao động là trạng thái thường xuyên khi Lạc Thọ đang có mặt. Chúng ta vì thiếu Định, Tuệ chiếu soi xem lạc thọ chỉ là lạc thọ, lạc thọ như thực tướng”; ta đã biến Lạc Thọ Thuần Túy ấy thành khổ đau qua tâm trạng lo lắng, bất an của mình.
  • Lạc Thọ biến đổi, biến mất: Khi có một cái gì, một vật gì khả ái, khả hỷ… không còn ở với ta nữa, nó biến đổi, nó mất rồi thì ta sẽ mang cảm giác hụt hẫng, nuối tiếc, sầu muộn. Điều ấy thì trên cuộc đời này ai cũng có thể kinh qua và chiêm nghiệm được cả. Cuộc rượu nào không vơi? Niềm vui nào không tàn?“. Thế nhưng, chúng ta thường không thấy rõ để sống đúng với qui luật ấy. Chính do mê đắm, chấp thủ Lạc Thọ; không nhìn rõ lạc thọ như thực tướng nên ta đã biến nó thành khổ đau.
  • Lạc Thọ tồn tại quá lâu: Cái đẹp, niềm vui, mùa xuân… giả sử mà nó ở với ta mãi thì quả là ta sẽ không chịu đựng nổi. Lâu ngày gặp lại người bạn thân thì vui, thì quí, nhưng nếu người bạn thân ấy cứ ở mãi bên ta, không chịu đi thì còn vui, còn quí nữa không? Một đoá hoa rất đẹp, nó cứ nở mãi không chịu tàn thì sao nhỉ? Do vậy, khi lạc thọ tồn tại quá lâu thì ta sẽ chán nản, chán chường.

­­Tóm lại, vì tâm lý chủ quan sai lầm, do mê chấp, tham đắm, không thấy rõ thực tướng của Lạc Thọ với bản chất là biến hoại, đổi khác. Chính chúng ta đã biến Lạc Thọ Thuần Túy thành Hoại Khổ. Cái khổ này cũng chính do ta đẻ ra, nó vốn không thực sự tồn tại.

Tham(hữu ái) biến đổi Lạc Thọ Thuần Túy thành Hoại Khổ – nghĩa là Tâm Tham Lam Muốn Kéo Dài Lạc Thọ Thì Phát Sanh Hoại Khổ.

📌 HÀNH KHỔ

Hành Khổ (saṅkhāra dukkha) có nghĩa là trong cuộc sống thường ngày, có những lúc chúng ta ở trong cảm giác bình thường. Không Lạc, không Khổ, gọi là Xả. Tuy nhiên, chúng ta thường không ghi nhận (chánh niệm) đúng như thực tướng là Xả Thọ. Ở trong Xả Thọ, chúng ta không thấy, không biết. Chỉ một lúc là chúng ta sẽ thấy buồn chán, trống rỗng, vô vị. Thế rồi, do tâm lý không bằng lòng với cảm giác xảchúng ta thường tìm cách chạy trốn nó, khỏa lấp nó, giết thì giờ trong những cuộc vui, cuộc tiêu khiển khác. Từ đây, ta đã biến Xả Thọ Thuần Tuý thành một khổ đau mới. Đó là Hành Khổ. Chúng ta sẽ quan sát sự diễn biến ấy.

🌿 Xả Thọ Thuần Tuý

  • Tâm của chúng sanh thường có hai năng lực chính là Lực ÂmLực Dương. Lực ÂmhútLực Dươngđẩy.
  • Khi các đối tượng Ngũ Trần là khả ái, khả hỷ, khả lạc làm ta ưa thích thì ta muốn ôm níu, chiếm giữ, thủ trước. Nghĩa là muốn hút vào. Hút vào là lực âm, là Tham (hữu ái).
  • Khi các đối tượng Ngũ Trần là không khả ái, không khả lạc, không khả hỷ… làm cho ta không thích, chỉ muốn từ chối nó, phủ nhận nó. Nghĩa là muốn đẩy nó ra. Đẩy ra là lực dương, là Sân (phi hữu ái).

Tuy nhiên có những đối tượng Ngũ Trần, hoặc ngay lúc ấy chẳng có những đối tượng nào của Ngũ Trần có thể làm cho ta thích (lạc) hay không thích (khổ), tạo cho Tâm ta khởi sanh năng lực hút (tham) hay đẩy (sân). Thì khi ấy được gọi là xả – Xả Thọ.

Nếu không hiện quán Xả Thọ Thuần Tuý ấy như thực tướng thì ta sẽ biến Xả Thọ ấy thành nỗi khổ đau, thành Hành Khổ.

🌿 Hành Khổ

Xả thọ là lúc không vui, không buồn; tâm ta lúc ấy dường như là rỗng không, không chú tâm, không dính mắc một đối tượng nào. Thường tình, khi ở trong trạng thái ấy, ta không chịu đựng được lâu. Thế rồi, ta tìm cách khỏa lấp sự trống không ấy:

  • Đi dạo phố chơi.
  • Tìm một người bạn để đi uống cà phê, nghe nhạc.
  • Tìm thú vui chén rượu, canh bạc.
  • Đi mua sắm.
  • Tìm một công việc gì đấy để làm, như làm vườn, dọn dẹp nhà cửa, quét sân…
  • Đọc sách, tham thiền, đánh cờ, tìm bạn để đàm đạo, đến chùa, dạo cảnh, ngắm hoa, viết truyện, làm thơ, vẽ tranh…

Sự giải trí ấy thiên hình vạn trạng, nhưng nói chung: Người cao nhã thì tìm thú vui, thanh cao, người thấp thỏi thì tìm thú vui hạ liệtTùy theo Tâm mà tìm Cảnh. Dường như ai cũng không chịu đựng nổi trạng thái trống không nên muốn lăng xăng tìm kiếm thú vui tinh thần hoặc vật chất. Nhưng tựu trung cũng không ra ngoài Lục Trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Chính tâm lý lăng xăng tìm kiếm này làm cho ta dao động, bất an; cứ khao khát muốn tìm sự thỏa mãn mới nên đã tạo nên nỗi Khổ gọi là Hành Khổ (saṅkhāra dukkha). Hành tức là tâm tạo tác do điều kiện căn và trần. Do không thấy rõ, biết rõ (Si) để hiện quán cảm giác xả này chính là cảm giác thực – Xả Thọ như thực tướng nên si mê kéo ta đi, lăng xăng tạo tác rồi bị ảo giác này chi phối, thao túng, dẫn dắt, điều động…

Vậy, do Si chi phối nên Xả Thọ Thuần Tuý đã trở thành Hành Khổ.

Nói tóm lại, ba loại Khổ: Khổ Khổ, Hoại Khổ và Hành Khổ, đối với người trí tuệ thì chúng không phải là cảm giác thực mà chỉ là 3 ảo giác phát sanh từ 3 ảo tưởng tham (hữu ái), sân (phi hữu ái) và si (dục ái).

Nếu không thấy, biết, hiện quán và thực chứng Lạc, Khổ, Xả là 3 cảm giác thực phát sanh theo duyên căn và trần, chúng vốn bị chi phối bởi những định luật tự nhiên của tâm sinh vật lý; thì 3 ảo tưởng (tham, sân, si) sẽ sinh ra 3 ảo giác hoại khổ, khổ khổ và hành khổ. Đó chính là khổ đế rồi nhận chìm chúng ta trong dòng chảy siết của bộc lưu sinh tử, khổ đau và phiền não.

2. TẬP ĐẾ (Dukkha Samudaya Sacca)

SỰ THẬT VỀ NGUYÊN NHÂN KHỔ

Là nguồn gốc, nguyên nhân của sự Khổ Đau. Nhận thức được những Khổ đau chưa đủ, ta cần phải hiểu một cách tường tận bản chất gây ra nỗi Khổ để từ đó diệt trừ hoàn toàn khổ đau.

Tất cả những cái như: khổ sanh, khổ già… (trong 8 khổ), cho đến những Hoại Khổ, Khổ Khổ và Hành Khổ đều có một nguyên nhân chung nhất, cái sinh ra tất cả khổ ấy, chính là vô minh và ái dục.

Vô Minh Ái Dục chính là Tập Đế.

Nếu con người ta tham ái, khao khát quá mức dục lạc, vật chất, danh vị… ắt dẫn tới khổ đau. Sâu xa hơn, thì đó là do sự Vô MinhSi , Ngu Muội không thấy được chân tướng của vạn vật nên cứ đắm chìm, bám víu vào những thứ hư ảo không bền vững ( Thường) nên sinh ra Khổ đau. Vì Vô Minh nên bị cuốn vào tam độc “Tham, Sân, Si”, khiến bản thân ham muốn lạc thú, cho cái tôi của mình là nhất, chấp thủ vào cái tôi và những cái của tôi nên mãi mãi không thoát ra được nỗi khổ đau. Và như chúng ta đã biết, ngoài Ngũ Uẩn, hoàn toàn không có “Cái Tôi” nào tồn tại. (Xem thêm chi tiết về Ngũ Uẩn tại đây để hiểu rõ hơn)

Chúng ta hãy xem thử Vô Minh và Ái Dục có tính chất và hành tướng như thế nào?

📌 VÔ MINH

Vô minh (avijjā) là tình trạng tâm trí si mê, không sáng suốt, không tỉnh thức, không tự giác, quên mình hoặc không tự biết mình. Tuy nhiên, đấy mới chỉ là định nghĩa về Quả chứ không phải định nghĩa về Nhân. Vì cái làm cho chúng ta không sáng suốt, không tỉnh thức… mới chính là nguyên nhân che lấp, che mờ tâm trí.

Quả của Vô Minh, là tính chất, thì Nhân của Vô Minh chính là hành tướng. Hành tướng ấy thường xuất hiện dưới 3 dạng chính sau đây:

🌿 Hôn Trầm, Thụy Miên

Đây là trạng thái mệt mỏi, dã dượi cả Thân lẫn Tâm.

  • Hôn trầm: Thờ ơ, lãnh đạm, đãng trí, buông xuôi, biếng nhác, tiêu cực, thụ động, vô ký, (không ghi nhận)… chi phối các tâm sở.
  • Thụy miên: Lừ đừ, buồn ngủ, mê ngủ…

🌿 Trạo Hối

Gồm Trạo Cử và Hối Quá:

  • Trạo cử: Nghĩa đen, trạo là lay động, cử là cất lên, nhúc nhích. Vậy Trạo Cử là trạng thái tâm dao động, hưng phấn, suy nghĩ vẩn vơ, phóng tâm, vọng tưởng, hoang tưởng, mơ mộng tương lai, cuốn theo hiện tại.
  • Hối quá: Nuối tiếc dĩ vãng, tưởng nhớ quá khứ, ăn năn những việc đã qua.

Nếu chánh niệm, tỉnh giác là ghi nhận, rà soát, nắm bắt, chú tâm rốt ráo trên đối tượng, thì:

  • Hôn Trầm, Thụy Miên là chìm dưới đối tượng, đọng dưới đối tượng, ngủ dưới đối tượng.
  • Trạo Hối là phóng trên đối tượng, là ra ngoài đối tượng, trượt trên đối tượng, bồng bềnh, lang thang trên đối tượng.

🌿 Nghi

Là trạng thái phân vân, lưỡng lự, do dự, bất nhất, bất quyết, ngần ngại, ngờ vực, hốt hoảng, không định hướng…

Nói tóm lại, chính 3 trạng thái Hôn Trầm – Thuỵ Miên, Trạo HốiNghi che mờ, chi phối và làm cho ta đánh mất sự Tỉnh Thức, Sáng Suốt.

Vậy, cả Nhân Quả của Vô Minh làm cho chúng sanh lăng xăng tạo tác sinh ra tất cả các Khổ của trần gian.

📌 ÁI DỤC

Ái dục là gọi chung cả Tham, Sân, Si hay Hữu Ái, Phi Hữu Ái và Dục Ái.

Đây là những lòng ham muốn sai lầm, không đúng với qui luật đích thực của sự sống.

Do thiếu sáng suốt, thiếu tỉnh thức; do bị vô minh chi phối, chúng ta không thấy rõ sự thật nên đã tạo tác những hành nghiệp qua thân, khẩu, ý; bập bênh, trôi lăn mãi giữa đại dương sinh tử khổ đau không thực có.

Không thực có vì Tham (Hữu Ái), Sân (Phi Hữu Ái), Si (Dục Ái) chính là 3 ảo tưởng sinh ra từ 3 ảo giác là Hoại Khổ, Khổ Khổ và Hành Khổ.

Ta hãy xem những ham muốn sai lầm, tức là 3 ảo tưởng ấy:

🌿 Tham – Hữu Ái (bhavataṅhā)

Là lòng tham muốn, tham đắm, ưa thích, yêu thích; muốn chiếm hữu, muốn giữ lại, muốn lưu lại những đối tượng khả ý, khả ái, khả lạc.

Đây chính là Những Ham Muốn Sai Lầm. Tại sao vậy?

Tất cả các pháp thuộc nhiên giới, tâm giới hay pháp giới; chúng đến hay đi, sinh hay diệt… đều tuân thủ theo luật và quy tắc của chính nó. Ta không thể áp đặt tình cảm, tâm lý chủ quan của mình lên ngoại giới hoặc các đối tượng chiêm quan.

  • Thấy một đoá hoa đẹp, ta thích. Ta muốn lưu giữ mãi đoá hoa ấy. Vậy là sai lầm, vì đoá hoa kia rồi sẽ tàn.
  • Thấy một buổi chiều thu, sắc trời, sắc nước, khói sương thật ngoạn mục… Tuy nhiên, ta không thể lưu giữ mãi cảnh sắc ấy vì hoàng hôn sẽ đến, đêm sẽ về.
  • Cũng tương tự thế là tuổi thanh xuân, sắc đẹp, vợ hiền, con thảo, món ăn ngon, hạnh phúc ấm êm… tất cả đều bị chi phối bởi các định luật, tất cả rồi đều phải bị vô thường biến đổi, sẽ biến đổi dạng và thay đổi chất. Chẳng có cái gì, pháp nào giữ nguyên vị trí, sẽ ở mãi với ta do lòng yêu thích của ta được.

Vì ý tưởng, ước muốn lưu giữ, chiếm giữ ấy không đúng với qui luật tự nhiên, không thực sự có giữa tự nhiên, nên Tham ấy chỉ là ảo tưởng sẽ sinh ra Khổ vậy.

🌿 Sân – Phi Hữu Ái (vibhavataṅhā)

Là tâm lý bực tức, bất mãn, chán ghét, oán hận, khó chịu khi đối diện với một hiện tượng không vừa lòng, không thích ý với ta.

Điều ấy có đúng hay không? Đây cũng lại là Những Tâm Lý Sai Lầm? Tại sao vậy?

  • Cái nóng cháy da, cái lạnh buốt xương, cơn lũ tàn hại, cơn bão quá quắt… mặc dù ta không thích nhưng nó vẫn đến, đi, sinh diệt theo định luật của đất trời.
  • Những người dễ ghét, khó ưa, ta không thích đấy, nhưng họ vẫn tồn tại ở thế gian, vẫn có mặt ở xung quanh ta!
  • Một hoàn cảnh xã hội, một môi trường sống… dường như luôn luôn trái ý, nghịch lòng với ta. Dù có ghét bỏ, chối từ… thì đi đâu để tránh khỏi cái bất toại nguyện ấy?
  • Có thể nào, con người, thế giới chung quanh ta, với sự vận hành của biệt nghiệp, cộng nghiệp, vận hành tâm, cảnh, quan niệm, tính tình sở thích… lại không tạo nên sự xung đột, bất khả lạc, bất khả hỷ… như là cái tất yếu của muôn đời?

Tất cả những điều đó mà muốn vừa lòng theo ý ta, không là một ảo tưởng điên rồ hay sao? Vậy thì ý tưởng muốn chấm dứt, muốn công phá, chối bỏ, triệt tiêu những đối tượng nghịch ý với mình là trái với định luật tất yếu của vũ trụ vạn hữu.

🌿 Si – Ái Dục (kāmataṅhā)

Là trạng thái tâm mê mờ, đần độn; thường hay phóng dật, dao động, nghi hoặc, vọng tưởng, hoang tưởng… không chỉ Ngũ Trần hiện tại mà cả quá khứ và tương lai.

Đây là trạng thái tâm không có chủ đích gì, thiên hướng gì như xác chết vật vờ giữa dòng sông, tấp chỗ này, tấp chỗ kia; cái gì cũng cuốn hút được, cái gì cũng không vừa lòng được lâu. Ăn, ngủ, thụ hưởng là chính.

Nếu Lạc Thọ là hút dính vào, lộ rõ chức năng của Tham; Khổ Thọ là đẩy bật ra, lộ rõ chức năng của Sân, thì khi chưa hút, chưa đẩy, Tham Sân chưa tác dụng là Xả Thọ. Khi ở trong Xả ThọTâm thường bị Si chi phối.

Khi Tâm ở trong trạng thái không vui, không buồn, không khổ, không lạc… thì Si lại kéo đi tìm kiếm đối tượng hưởng thụ, thế rồi rơi vào những cái Khổ trước đây, nghĩa là rơi vào Lạc Thọ hay Khổ Thọ. Đấy là cái vòng luẩn quẩn.

Nói rộng rãi và vi tế hơn:

  • Những người tu hành muốn thỏa mãn sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; một hình thức tìm kiếm dục lạc, tức là phát xuất từ dục ái (si mê), chỉ hưởng quả Dục giới.
  • Những người tu hành muốn thỏa mãn các lạc thọ, mong hỷ thọ, lạc thọ ấy kéo dài, trường tồn… tức là phát xuất từ hữu ái (tham), chỉ hưởng quả Sắc giới.
  • Những người tu hành không bằng lòng các sắc, muốn đoạn lìa các sắc để hưởng thọ các trạng thái vi tế hơn… thì họ lại rơi vào phi hữu ái (sân ), chỉ hưởng quả Vô sắc giới.

Các cảnh trời Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới là phước báu của bố thí, trì giới, thiền định, là hạnh phúc của con người. Nhưng dưới mắt nhìn của Bậc Giác Ngộ, chúng chỉ là những đối tượng tìm kiếm của Tham, Sân, Si một cách vi tế mà thôi!

Cho hay, dầu là tu hành, nhưng vẫn lắm kẻ tu hành do Tham, Sân, Si; chứ không phải ai tu hành cũng đúng với lộ trình: Giới, Định, Tuệ cả đâu.

3. DIỆT ĐẾ (Dukkha Nirodha Sacca)

SỰ THẬT VỀ DIỆT KHỔ

Diệt Đế hay Tịch Diệt, Niết Bàn là sự thật về chấm dứt, tiêu diệt, dập tắt hay giải thoát khỏi khổ đau, phiền não.

Diệt Đế nhắc tới việc Chấm Dứt Nghiệp Để Không Còn Luân Hồi Khổ Đau.

Theo Thập Nhị Nhân Duyên (12 nhân duyên trong vòng Lục Đạo Luân Hồi – xem chi tiết tại đây), nguyên nhân của Khổ ĐếVô MinhÁi Dục. Theo tiến trình sinh diệt của Thập Nhị Nhân Duyên thì khi Minh diệt thì Hành, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thụ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão Bệnh Tử diệt. Như vậy:

  • Diệt Đế là diệt tất cả sầu, bi, khổ, ưu, não. Chứ không phải Diệt Đế, Niết Bàn là hư vô như nhiều người lầm tưởng.
  • Diệt Đếdập tắt tất cả mọi ảo tưởng (Tập Đế) thì ảo giác (Khổ Đế) sẽ không còn. Tập ĐếNhân, Khổ ĐếQuả. Diệt Nhân là Quả sẽ mất.

Có người tu tập cố dùng Đạo Đế để đối trị và diệt lần lần Khổ Đế. Như vậy là sai lầm. Ta không thể diệt Quả được. Cái chúng ta cần diệt, đó chính là Tập Đế – đó mới là cái Nhân. Ánh sáng đến thì bóng tối tự lui, ta không thể diệt bóng tối được. Tương tự thế, khi cái thấy đúng (chánh kiến) phát sanh, không còn ảo tưởng nữa thì ảo giác (các Khổ) sẽ không tồn tại, chứ ta không thể diệt được ảo giác (các Khổ).

Khổ Đế là ảo giác, là những cảm giác không thực nhưng chúng chi phối và bóp méo toàn bộ tâm sinh vật lý của chúng ta, chúng nhấn chìm cảm giác thực và làm điên đảo chúng sanh trong 3 cõi, 6 đường.

Như vậy, rõ ràng diệt đế là dụng ngữ đầy trí tuệ của Đức Phật hàm chỉ chấm dứt tất cả mọi ảo tưởng, tham, sân si, vô minh, ái dục và vọng nghiệp. Khi ảo tưởng chấm dứt thì ảo giác (Khổ Đế) sẽ không còn; trả người giác ngộ trở về với thế giới như chân, như thực, tịch diệt hiện tiền, là Niết-bàn tại đây và bây giờ chứ không phải ở một xứ sở vinh quang nào khác. 

4. ĐẠO ĐẾ (Dukkha Nirodhamagga Sacca)

SỰ THẬT VỀ CON ĐƯỜNG DIỆT KHỔ

Đạo đế là sự thật về con đường diệt khổ. Là tu tập theo Bát Chánh Đạo. Là phương pháp để diệt trừ những nguyên nhân gây ra sự khổ đau để chúng sinh được hưởng an lạc, hạnh phúc. Trong đó, “Đạo” tức là con đường đúng đắn, là luân lý lẽ phải.

Đạo đế là sự thật về con đường Diệt Khổ. Là tu tập theo Bát Chánh Đạo.

Hành giả tu tập theo Bát Chánh Đạo là đủ. Tuy nhiên, nếu nói rộng ra là gồm cả 37 phẩm trợ đạo. Ta hãy xem qua 37 phẩm trợ đạo ấy:

  • Ngũ căn : Tín, tấn, niệm, định, tuệ.
  • Ngũ lực : Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực và tuệ lực.
  • Tứ chánh cần : 4 tấn.
  • Tứ niệm xứ : 4 niệm.
  • Tứ như ý túc : Dục, tấn, tâm, tuệ.
  • Thất giác chi : Niệm, trạch pháp, tấn, hỷ, an, định, xả.
  • Bát Chánh Đạo : Kiến, tư duy, ngữ, nghiệp, mạng, tấn, niệm, định.

Như thế 37 phẩm trợ đạo ấy gồm có: 9 tấn, 8 niệm, 4 định, 2 tín, 1 tư duy, 1 hỷ, 1 an, 1 xả, 1 ngữ, 1 nghiệp, 1 mạng, 1 dục, 1 tâm.

Tuy nhiên, nếu phân tích thêm nữa thì 37 phẩm trợ đạo đều có đầy đủ ở trong Bát Chánh Đạo bao gồm:

  • Chánh kiến và chánh tư duy thuộc Trí (Tuệ phần): Trong đó có 5 tuệ (trạch pháp thuộc tuệ) và 01 tư duy.
  • Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc Thân (Giới phần): Trong đó có 01 ngữ, 01 nghiệp, 01 mạng.
  • Chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc Tâm (Định phần): Trong đó có 9 tấn, 8 niệm và 4 định.

Còn các pháp khác không cần thiết. Vì khi tu tập đã có tín; và trong tấn, niệm, định vốn đã có dục, tâm, hỷ, an, xả. Và, rút gọn hơn nữa, còn giới, định, và tuệ. Tu tập giới, định, tuệ chính là tu tập 37 trợ đạo phẩm.

Please wait while flipbook is loading. For more related info, FAQs and issues please refer to DearFlip WordPress Flipbook Plugin Help documentation.

☆☆☆☆☆☆☆💐💐💐💐💐☆☆☆☆☆☆☆

🙏🏻 Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🏻

🙏🏻 Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 🙏🏻

🙏🏻 Nam mô Long Hoa Hội Di Lặc Tôn Phật 🙏🏻

🙏🏻 Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát 🙏🏻

🙏🏻 Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát 🙏🏻

🙏🏻 Nam mô Đức Tông Sư Minh Trí 🙏🏻

☆☆☆☆☆☆☆💐💐💐💐💐☆☆☆☆☆☆☆

Khi xem và đọc những điều này. Nếu có chút gì lợi ích cho chúng sinh. Đó là sự diệu dụng của pháp bảo. Xin hồi hướng công đức lành này. Cầu cho chánh pháp được cửu trụ ta bà. Mọi loài sớm thoát khỏi đường mê. Quay về nẻo giác. Từ bỏ sát sanh hại vật. Phát tâm quy y Tam Bảo. Thọ trì ngũ giới. Ăn chay niệm Phật. Bố thí. Phóng sanh. Người người biết lấy lòng từ bi quý kính lẫn nhau. Thế giới hết nghiệp binh đao. Mưa thuận gió hoà. Quốc thái dân an. Muôn loài dứt sạch phiền não. Oan trái nghiệp chướng tiêu trừ. Thân tâm an lạc. Phước huệ song tu. Đạo quả chóng viên thành. Âm siêu dương thới. Lưỡng lộ tồn vong. Pháp giới chúng sanh đồng thành Phật Đạo.

🙏🏻 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 🙏🏻

() Buddham Sharanam Gacchami ()

() Dhammam Saranam Gacchami ()

() Sangham Saranam Gacchami ()

 

Thiện Hoá sưu tầm và tổng hợp-

Thiện Hóa
Thiện Hóa

Đời đạo hòa đồng tâm an lạc
Sắc không quy nhứt tánh viên minh

Bình Luận

Về Bích Tọa Đàm

Chúng tôi, những thiện nam tín nữ với 1 lòng thành kính hướng về ngôi Tam bảo, xin được phép thành lập trang Bích Tọa Đàm để làm nơi chia sẻ những lời huyền ngọc, những kiến thức Phật học mà chúng tôi đã hữu duyên kiến huệ được. Nếu có sự trùng lặp hoặc chưa đúng. Rất mong được quý vị, chư đồng đạo hoan hỉ bỏ qua. Cùng nhau góp ý xây dựng để hoằng dương Phật pháp. Cầu cho chánh pháp được cửu trụ ta bà. Muôn loài sớm thoát khỏi đường mê, quay về nẻo giác. Chúng sinh đồng thành Phật đạo.

 – NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT –

Kết nối với chúng tôi

Bài viết gần đây

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI

Đăng kí nhận bài viết mới

Đăng kí nhận thông báo về các bài viết mới nhất của Bích Tọa Đàm. 

error: Nội dung được bảo vệ !!

THAM GIA NHÓM FACEBOOK

Hoan hỉ kính mời bạn cùng tham gia vào nhóm của BÍCH TOẠ ĐÀM trên Facebook để cùng nhau tinh tấn tu tập và trao đổi chánh Pháp.
🙏🏻Nam Mô A Di Đà Phật🙏🏻